“Madonna” của Bội Trân: Lần Xuất Hiện Đầu Tiên Và Một Kết Quả Đáng Ghi Nhận Tại Sotheby’s, 2008
Sotheby's Hong Kong
Lần đầu được giới thiệu và đưa ra đấu giá tại Sotheby’s năm 2008, Madonna ghi dấu một khoảnh khắc lặng trong hành trình nghệ thuật của Bội Trân. Được khởi sinh từ cô tịch và định hình bởi phẩm cách, tác phẩm phản chiếu sự gắn bó của bà với hình tượng nữ tính vượt thời gian, tĩnh tại, mang vết thương, mà vẫn vượt lên. Đó không chỉ là tác phẩm đầu tiên của bà bước vào không gian đấu giá. Mà là một khoảnh khắc, khi thế giới dừng lại để lắng nghe.
Tác phẩm hội họa của Bội Trân thể hiện một khí chất đặc dị, chẳng thuận theo trào lưu, chẳng nhập vào môn phái nào thường thấy. Bà vẽ không chỉ để tỏ lộ cái riêng, mà còn để truy cầu một thứ nhân bản phổ quát, sâu thẳm bén rễ nơi tâm hồn Việt, vốn đa cảm mà tĩnh lặng, dung dị mà sâu xa
Dầu là tranh sơn dầu hay sơn mài, Bội Trân không thuộc về lối mạch trường phái Mỹ thuật Đông Dương đất Bắc, cũng chẳng thể gán vào “trường phái Gia Định” nơi Nam quốc.
Sinh ra tại Huế, miền Trung Việt Nam, một thành phố chịu đựng nhiều hơn là sản sinh ra những biến động chính trị đau thương của thế kỷ XX, người nghệ sĩ gần như không chịu ảnh hưởng, dù tích cực hay tiêu cực, từ những dòng chảy đã nuôi dưỡng các “trường phái” ấy. Thực hành của bà vì thế mang tính đơn độc, được hình thành ngoài các điều kiện xã hội, các ràng buộc thứ bậc và những thoả hiệp thường thấy.
Và cách tiếp cận ấy tự khắc ghi mình trong một hành trình tìm kiếm nhân văn được đẩy đến cực độ. Từ một học thuyết đặt con người làm mục đích tối hậu, Bội Trân theo đuổi một sự tìm kiếm tuyệt đối mà chính bà là trung gian biểu đạt: mất mát, cô độc, thiếu thốn vật chất, những điều bà đã hơn cả trải qua, cần phải được chuyển hoá để có thể vượt lên. Và việc vượt qua thực tại phải bắt đầu bằng việc vượt qua chính mình. Tuy vậy, “cái tôi” vẫn phải thuộc về mặt đất: người nghệ sĩ không phải là kẻ bị đày đoạ, mà là một chủ thể của thực tại; người đó làm hiển lộ ý niệm, như cách người ta bày biện một bàn tiệc. Khu vườn mang dáng dấp Eden của Bội Trân tại Huế, trên đồi Thiên An, là một minh chứng cho điều đó: sự đa dạng, sự thanh nhã, nhưng cũng là sự giản dị, một đoá sen hay một bông quỳnh nở về đêm rồi chóng tàn, đều truyền đạt điều này. Khu vườn sẽ không tồn tại nếu không có Bội Trân; nhưng Bội Trân, với tư cách hoạ sĩ, cũng không thể tồn tại nếu thiếu khu vườn. Một sự thanh nhã kép: hình mẫu chính là chủ thể của bà. Là học trò của hoạ sĩ Nguyễn Trung, người bà gặp năm 1995, người mà bà trở thành nàng thơ và là hình mẫu lâu dài, Bội Trân đã vượt qua chính mình. Một cái nhìn bề mặt có thể cho thấy sự tương đồng lớn về biểu đạt giữa hai nghệ sĩ, trong khi, ở một cấp độ tinh tế hơn, trong sáng tạo của Bội Trân, hình mẫu, hay nói cách khác là đối tượng, tự vượt qua chính mình đến mức đối tượng được biểu đạt trở thành chủ thể của chính nó: nó rời khỏi bức tranh, thoát khỏi người vẽ và tự biểu đạt chính mình; “nó” trở thành “tôi”, và sự siêu vượt được hoàn tất.
Thực hành của Bội Trân đưa ta trở lại với Nguyễn Gia Thiều (1741–1798) và kiệt tác của ông, Cung Oán Ngâm Khúc:
"Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa,
Mượn hoa đàm, đuốc tuệ làm duyên.
Góp trần một bước thiên nhiên,
Cái thân ngoại vật là tiên trong đời."
© Sotheby’s Modern and Contemporary Southeast Asian, Hong Kong, 5 October 2008