Ta Biết Gì Về Một Đời Người? Trương Bé, Tuyệt Đối, và Một Sự Ghi Nhận Dành Cho Bội Trân
Trương Bé là một nghệ sĩ lớn vì anh là một con người vốn là hiện thân của lịch sử đất nước mình dù anh không muốn thế. Đằng sau nụ cười thẳng thắn và khả ái của anh, vượt qua dáng đi bặm sị ấy, là cả một cá tính mạnh mẽ tỏa ra. Đối với một số người, nét vững chãi ngoại hình ấy có một cái gì như là trấn áp.
Ta biết được gì về một con người, về một đời sống? Ngay khi câu hỏi được đặt ra, nó đã rút khỏi mọi câu trả lời. Điều ta biết, có lẽ, chỉ là điều ta vẫn luôn biết về cuộc đời, nghĩa là gần như không biết gì. Nhưng người nghệ sĩ mở ra một khả năng khác, không phải tri thức, mà là một cách nhìn. Không phải diễn giải, mà là một tư thế để giữ lấy thế giới, dù chỉ trong một khoảnh khắc.
Chính trong điều kiện ấy mà Trương Bé cần được tiếp cận.
Ông không kể lại lịch sử, cũng không tìm cách biểu đạt nó. Nhưng lịch sử vẫn hiện diện trong ông, không như đề tài, mà như chất liệu. Nó nằm trong mật độ bề mặt, trong sức căng của hình thể, trong một ngôn ngữ không mô tả thế giới, mà hấp thụ nó.
Đằng sau nụ cười thẳng thắn và một dáng đứng có thể bị hiểu là nghiêm cẩn, hiện ra một cá tính mang sức nặng hiếm có. Không khẳng định, nhưng hiển lộ. Không tạo dựng, mà đã sống. Đối với một số người, sự vững chãi ấy có thể gần như một dạng đối kháng. Nhưng chính điều đó neo giữ tác phẩm của ông.
Trong sơn mài, Trương Bé đạt đến một điểm thường được đặt ngang với Nguyễn Gia Trí, không phải bằng sự lặp lại, mà bằng sự tương đương. Một ngôn ngữ được đẩy tới giới hạn, nơi hình ảnh bắt đầu tan ra thành một dạng khó nắm bắt hơn.
Điều ông đề xuất không phải là một hội họa giải thích, mà là một hội họa đòi hỏi. Một ngôn ngữ không lời nhưng đầy vang động. Một nhãn quan không hình tượng nhưng tràn đầy màu sắc.
Tác phẩm của ông không tái cấu trúc thế giới. Không làm nó ổn định. Ngược lại, nó nhận lấy sự bất định của tồn tại, tính vô thường, sự không cố định của đời sống. Điều có thể là khúc ngâm trở thành một dạng chuyển hóa. Không phải giải quyết, mà là biến đổi.
Hành trình ấy không thiếu nghịch lý. Càng hướng đến tuyệt đối, tác phẩm càng trở về sự tiết chế. Càng mở rộng ra ngoài, càng tụ lại bên trong. Đó là tư thế của một con người đơn độc nhưng không lẻ loi, một tâm thế biết đứng vững trong chính cường độ của mình.
Chỉ trong điều kiện ấy, cử chỉ của ông dành cho Bội Trân mới có thể được hiểu.
Trương Bé không viết để nâng ai lên. Ông không viết để định nghĩa. Ông viết để ghi nhận.
Những dòng viết tay, giản lược về hình thức, trực tiếp trong cách gọi, không mang diễn ngôn. “Thân tặng họa sĩ Bội Trân.” “Thân tặng họa sĩ Bội Trân và gia đình.” Không giải thích. Không diễn giải. Không đặt vị trí.
Và chính trong sự vắng mặt ấy, một điều xác định được đặt ra.
Một sự ghi nhận không cần so sánh.
Một sự ghi nhận không cần biện minh.
Bội Trân không xuất hiện ở đây như một đối tượng được ca ngợi, cũng không phải một hình tượng cần được giải thích. Bà xuất hiện như một họa sĩ đồng hành, một sự hiện diện đã được hiểu trong cùng một trường trải nghiệm.
Nếu Trương Bé tháo tung cấu trúc thế giới để gánh lấy nó, thì Bội Trân giữ một sự tiếp nối trong đó, không bằng cách chống lại sự bất định, mà bằng việc tạo nên một không gian nơi nghệ thuật có thể ở lại, không chỉ như vật thể, mà như một điều kiện sống.
Tại Phòng Tranh Bội Trân, và sau này là Nhà Vườn Bội Trân, điều ấy trở nên hữu hình. Nghệ thuật không bị tách khỏi đời sống. Không bị nâng lên ngoài tầm với. Nó được giữ trong một cấu trúc nơi sáng tạo, gìn giữ và hiện hữu cùng nhau.
Theo nghĩa đó, cử chỉ của Trương Bé không phải là một hành động đơn lẻ. Nó thuộc về một sự tương hợp lớn hơn, giữa hai thực hành không giống nhau, nhưng nhận ra nhau không do dự.
Một sự ghi nhận không cần mở rộng thành diễn ngôn.
Bởi nó đã trọn vẹn.
Trương Bé: Truy Tìm Tuyệt Đối
Ta biết được gì về một con người? Về đời của nó chăng?
Ta chỉ biết được những gì ta từng biết về cuộc đời: có nghĩa là chẳng biết gì. Tuy nhiên người nghệ sĩ mở ra cho ta (mặc cho ta làm gì thì làm) một cách diễn tả cuộc đời và cũng là một cách nhìn về nó (“nó” ở đây là cuộc đời; “nó” ở đây là nghệ sĩ).
Trương Bé là một nghệ sĩ lớn vì anh là một con người vốn là hiện thân của lịch sử đất nước mình dù anh không muốn thế. Đằng sau nụ cười thẳng thắn và khả ái của anh, vượt qua dáng đi bặm sị ấy, là cả một cá tính mạnh mẽ tỏa ra. Đối với một số người, nét vững chãi ngoại hình ấy có một cái gì như là trấn áp.
Đối với tôi đó là điều kiện đương nhiên thoát ra từ một tài năng vững chắc mà tôi đặt lên chóp cao của nền tạo hình Việt Nam: trong cuộc thể nghiệm sơn mài, Trương Bé đứng ngang hàng với Nguyễn Gia Trí.
Sống trong nghệ thuật của mình, anh là con người diễm phúc và hãnh diện được như vậy. Hãnh diện làm bằng chứng cho diễm phúc và diễm phúc đăng quang cho hãnh diện. Chính những ai có biết đến đất nước Việt Nam sẽ tìm thấy nơi Trương Bé cái gốc tích của niềm hãnh diện ấy vốn nhuốm vẻ thô cứng như thế nào đó mà ta từng bắt gặp ở người dân Quảng Trị (nơi anh sinh ra) nhưng vừa là một tình trạng diễm phúc đượm một nỗi u sầu nào đó vốn làm nên tính cách con người Huế (là nơi anh vẽ và dạy học từ lâu nay).
Hãnh diện, u sầu, là những ý niệm mà đất nước Việt Nam giữ lấy cho mình trong suốt chiều dài lịch sử. Nét hãnh diện của Việt Nam không phải là tính cao ngạo mà là sự cầm chắc một định mệnh; cái u sầu của Việt Nam không phải là nước mắt mà là một cái nhìn, đôi khi rưng rưng chìm ngập vào một nụ cười rộng mở mà nhẹ nhàng cố nén.
Có ai là Việt Nam hơn Trương Bé? Không ai. Một số người là Việt Nam theo một cách khác nhưng chẳng còn ai Việt Nam như thế nữa. Nhìn ngắm một tác phẩm của Trương Bé là dấn thân vào một trình tự thơ mộng với kỹ thuật hoàn hảo. Một tác phẩm của Trương Bé xứng đáng được quan sát hồi lâu và thúc giục ta kết dính vào thế giới nội tại của họa sĩ.
Anh đòi hỏi tuyệt đối và tư thế đó khiến ta tưởng tới Ỷ Lan, vị vương hậu qua đời năm 1117:
CÓ KHÔNG
Có cũng là không, không cũng là có
Không cũng là có, có cũng là không
Có chẳng tựa vào gì
Chỉ như thế mới nhập được vào Tuyệt đối.
Đặc biệt khi diễn đạt bằng sơn mài ( sơn mài, cùng với tranh lụa, là một trong những đóng góp thượng thặng của nghệ thuật hội họa Việt Nam vào nghệ thuật thế giới), Trương Bé đề ra cho chúng ta một ngôn ngữ không lời nhưng tràn đầy âm thanh, một nhãn quan không hình tượng nhưng vỡ òa màu sắc.
Trương Bé quyết tâm làm bung cấu trúc đời sống chẳng phải nhằm tái cấu trúc mà nhằm gánh lãnh lấy nó. Anh minh họa “cuộc đời vô thường” ấy như lời của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798):
Đòi những kẻ thiên ma bách chiết
Hình thì còn, bụng chết đòi nau!
Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra.
Anh đã biết vượt qua (hoặc làm lệch dạng) khúc ngâm để chuyển hóa thành tụng ca. Từ các vong hồn quá khứ anh đã biết cách làm sinh sôi màu vàng cam lẫn màu vàng kim, trong đó những đường nét vốn muốn trôi về vô cực vẫn không thể nào bất tử. Anh ý thức được cái nghịch lý ấy nên chi càng ngày anh càng thiên về những khổ tranh thật lớn. Chúng ta chứng kiến tại nơi đây cuộc truy tìm của một con người đơn độc nhưng không lẻ loi, của một kẻ đam mê biết giao hảo với đam mê.
Trong cuộc truy tìm đầy thành tựu ấy lẽ nào ta không nghĩ tới Nguyễn Trãi (1380-1442):
NGÔN CHÍ
Does it really matter if a nobleman is clad in slovenly clothes beneath his dignity? All that we have to do is follow the path of the sages of Yore
With a cup of tea perfumed with the scent of apricot flowers; I wake up at night to gaze at the moon
During springtime I read and punctuate my books; Careers involving honour bring nothing but anguish and humiliation
In a foolish secluded life there lies liberty; Of my peers a great many are gone; Like paulownia leaves scattered when autumn comes to a close.
The pride of Hanoi, the strength of Quang Tri, the nobility of Hue and the sweetness of Budapest, all those stages and landmarks have successfully come to make a road a highway.
Jean Francois Hubert
Chuyên gia cao cấp, Mỹ thuật Việt Nam, Christie’s