Những Kiệt Tác Nhỏ: Hội Họa Của Các Họa Sĩ Bậc Thầy
Triển Lãm Mỹ Thuật, Phòng Tranh Minh Châu
Trong mỗi khung hình nhỏ, một thế giới mở ra, dịu dàng, gần gũi và thẳm sâu. Từ những chân dung trên vỏ bao diêm của Bùi Xuân Phái đến những ký hoạ trầm tư của Nguyễn Trung, những tác phẩm nhỏ bé ấy không nói về kích thước, mà nói về linh hồn. Bắt rễ từ những truyền thống nghệ thuật lâu dài, nhưng mang một tinh thần Việt Nam rất riêng, chúng nhắc ta rằng cái lớn lao đôi khi đến rất khẽ, trong những cử chỉ nhỏ nhất.
Có lẽ, muốn bàn về bất cứ một ngành nào, một khía cạnh nào của mỹ thuật cận đại Việt Nam, người tìm hiểu không thể nào tránh được việc quay về với nguồn gốc của hội hoạ Tây phương mà chúng ta đã được tiếp cập từ đầu thế kỷ XX đến nay.
Loại tranh khổ nhỏ hay còn gọi là tiểu hoạ có từ thời Trung Cổ ở Pháp. Khoảng thế kỷ X, XI các hoạ sĩ thời đó đã dùng kỹ thuật tiểu hoạ để miêu tả cuộc đời chúa Jesus và minh hoạ Thánh Kinh dùng cho việc truyền đạo. Vì hoàn cảnh in ấn thô sơ các tranh phải dùng khổ nhỏ, và do đó đi vào chi tiết để diễn tả tinh thần của mỗi tác phẩm.
Cho tới thế kỷ XVIII, XIX, nhất là vào giai đoạn cực thịnh của trường phái Ấn Tượng, các bức tranh tiểu hoạ nhiều khi đã rời bỏ vai trò phác hoạ, ký hoạ của mình để trở thành một trường phái hội hoạ rất độc đáo mà sức mạnh truyền cảm trong nghệ thuật nhiều khi còn mạnh hơn cả tranh lớn mà các hoạ sĩ thường phải dành nhiều thời gian để sửa sang, tỉa tót cho đến khi hoàn thành vừa ý. Cái độ "vừa ý" đó thường khó đạt được, vì càng sửa sang, tỉa tót, tác phẩm càng mất đi những tình cảm nóng sốt, sự tươi mạnh của nét bút và màu sắc, thường thấy trong những bản phác thảo hay ký hoạ ban đầu.
Để so sánh hai loại tranh tiểu hoạ và các tác phẩm lớn phải mất nhiều thời gian thực hiện, một bậc thầy của hoạ sĩ Pháp, ông Auguste Renoir có nói: "Để so sánh hai loại tác phẩm này tôi muốn dùng một cuộc tình nồng nhiệt trong một đêm ngắn ngủi để so sánh với một cuộc đời ân ái nhiều năm". Các bạn của Renoir đã "ồ" lên một tiếng và hiểu rõ sức mạnh của những bức tiểu hoạ mà Renoir còn để lại cho thế giới.
Rất nhiều hoạ sĩ Pháp thuộc trường phái Ấn tượng như Monet cũng vẽ loại tiểu hoạ này. Ngay cả hoạ sĩ đường phố Utrillo cũng để lại rất nhiều tác phẩm nhỏ.
Một bức tiểu hoạ của Renoir hay Monet qua những cuộc bán đấu giá của Drouot (Paris) vẫn được bán với giá từ 40,000 đến 50,000 USD cho một bức khổ 15 x 40 cm.
Bây giờ, hãy trở lại chuyện của hội hoạ nước ta. Thật ra tại Việt Nam đang ít khách sưu tầm tranh đặc biệt chú ý đến loại tranh nhỏ này. Được biết, trước đây bạn bè Bác Phái thường hay đến nhà Bác để la cà xem Bác vẽ và nói chuyện đều đã được nghe Bác Phái nói đến loại tranh nhỏ, sức mạnh và điểm thành công của nó, Bác thường nói: "đừng xem thường loại tranh nhỏ, nó rất đẹp, đẹp không kém gì tác phẩm cỡ lớn đã dùng nhiều thời gian hơn để tô điểm, thực hiện."
Nói là làm, những bức tranh nhỏ vẽ bằng ngòi bút sắt chấm vào mực đỏ, mực xanh học trò, Bác Phái thực hiện hầu hết tất cả chân dung những người bạn, những người văn nghệ sĩ tài hoa đất Bắc trên những mẩu giấc nhỏ bằng hộp diêm mà một gia đình nào đó đã bán ra thị trường, và người yêu tranh đã không khỏi "ồ" lên thán phục khi đang đứng trước một chân dung cực kỳ đẹp và thành công. Hơn nữa, Bác Phái còn không quên ký tên, có khi đề cả năm, tháng... thì cũng đủ nói lên sự trân trọng, trách nhiệm đối với từng tác phẩm như thế nào.
Bác Bùi Xuân Phái hầu như đã thầm lặng giải quyết băn khoăn sáng tạo của mình trong các tranh nhỏ, mà Bác đã vẽ khi ngồi, khi đứng, trong bất cứ một giờ phút nào của cuộc đời. Những bức tranh tí xíu ấy thường khi bác vừa vẽ xong, đã ký tặng ngay cho người bạn ngồi trước mặt. Có khi vừa vẽ xong, lại ném vào sọt rác rồi kiếm mẩu giấc khác để vẽ tiếp. Hình như loại tiểu hoạ đã thoả mãn được sự cần dùng sáng tác, Bác vẽ rất nhiều cảm xúc với truyện Kiều, và vẽ rất nhiều với thơ của Hồ Xuân Hương: "Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt, đi thì cũng dỡ, ở không xong"...
Những tác phẩm nhỏ, những phóng tác hay ký hoạ của các hoạ sĩ hiện đại khác mà Phòng Trưng Bày Nghệ Thuật Minh Châu đang trình bày trong triển lãm hôm nay như: Nguyễn Phan Chánh, Trần Văn Cẩn, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tiến Chung, Lưu Công Nhân ở miền Bắc và của Nguyễn Trung ở miền Nam, dường như cũng đủ để diễn tả sức mạnh và thành công của hội hoạ Việt Nam trong truyền thống của hội hoạ phương Tây: "Vẽ gì cũng được, cốt yếu là phải đem lại một cái gì mới chưa từng thấy trong hội hoạ đã có của thế giới."
Có một nhà phê bình nghệ thuật người Tân Tây Lan (New Zealand) đã viết: "Từ đầu thế kỷ XX cho tới nay, không khí sáng tạo nghệ thuật của thế giới hầu như bế tắc..." Hội hoạ Việt Nam tuy mới chập chững bước vào sáng tác và phát biểu ý kiến của mình, tuy nó là đứa "cháu xa" của trường phái Ấn Tượng, Dã Thú của châu Âu nhưng vẫn được xem như một luồng gió mát mẻ của sáng tạo, những bức tranh Việt Nam đang góp mặt trong các bảo tàng, nội thất của những gia đình châu Âu và giờ đây đang tiến vào Mỹ quốc.
Minh Châu thiết nghĩ, sự thật, hội hoạ Việt Nam có mặt khắp nơi trên thế giới vì một lý do rất giản dị: không giống ai, độc đáo và rất Việt Nam.